Nguyễn Khuyến - nhà thơ gắn liền với hình ảnh mùa hè làng quê Việt Nam

Nguyễn Khuyến – nhà thơ gắn liền với hình ảnh mùa hè làng quê Việt Nam

Giải trí Sự kiện trong tuần Văn hóa Văn học Xã hội

Thật ra, ở những tâm hồn ái quốc ưu dân, đem buồn vui riêng mình gắn với cuộc đời thì mấy khi có được nhũng phút giây thảnh thơi thực sự.

Đọc thơ mùa hạ của Nguyễn Khuyến, ta không chỉ gặp giọng thơ đơn thuần tả cảnh hay nhẹ nhõm tiêu dao quen thuộc của mảng đề tài này. Trong tâm thức văn hoá phương Đông, con người luôn có một giao cảm đặc biệt với thiên nhiên – vũ trụ. Trên những nguyên lý cơ bản của âm dương trong Chu Dịch như âm dương hỗ căn, động tĩnh, nhu cương, hư thực, âm dương giao cảm… mà người Trung Quốc mạnh về kiểu tư duy trực giác và tư duy quan hệ. Từ đặc điểm âm dương, ngũ hành, chỉ riêng một ngọn gió đã có bao điều.

Dương thịnh, vạn vật sinh trưởng, mộc – phương đông là chủ, xuân mang về ấm áp ôn hoà. Rạo rực ngọn đông phong ấm như hơi thở ủ thắm sắc hoa tâm tưởng Đào hoa y cựu tiếu đông phong (Thôi Hộ). Ngọn gió xuân không quen biết lay động cả màn là người con gái trong khuê phòng (Lý Bạch). Ngọn nam phong gọi sắc hạ say nồng Nam phong xuy sơn tác bình địa (Lý Hạ). Dương suy, âm dần thịnh, se sắt lạnh, xao xác hồn, kim – phương tây là chủ, mùa thu neo đậu lòng nghe nhuốm màu ly biệt liêu xiêu Tây phong xuy thiếp, thiếp ưu phu (Trần Ngọc Lan).

Ngọn gió thu buồn mãi lặng thổi hồn người Thu phong xuy bất tận (Lý Bạch)… Âm cực thịnh, thuỷ – phương bắc là chủ, ngọn gió bấc chao nhoà cánh nhạn trong tuyết Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân (Cao Thích). Dòng thời gian chảy trôi vô thường, cái đẹp – sự sống – tàn phai vẫn ưu ái cho xuân – thu trong thi ca. Thế giới Đường thi diễm ảo là vậy. Và các nhà thơ cổ điển Việt Nam – dù có sự sáng tạo riêng, dù đại thi hào Nguyễn Du đã ngưng đọng một nét lửa lựu lập loè tài hoa Dưới trăng quyên đã gọi hè trong bức tranh tứ bình – vẫn trong cảm thức triết mỹ chung ấy. Nhưng với Tam nguyên Yên Đổ có khác.

Nguyễn Khuyến - nhà thơ gắn liền với hình ảnh mùa hè làng quê Việt Nam - Ảnh 1

Ông được mệnh danh là “nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam”, là nhà thơ của mùa thu với chùm ba bài thơ thu nổi tiếng. Ngẫm kỹ, cả cuộc đời ông là 13 năm nửa ẩn nửa quan, còn lại sống ở làng quê chiêm trũng nghèo, dường như có một nét “nôm na” “lệch chuẩn” cổ điển. Quả thật “Thơ Nguyễn Khuyến đọc kỹ mới thấy thấm thía… và để lại ấn tượng sâu xa…” (Từ điển văn học). Cái thấm thía và ấn tượng ấy có lẽ trước hết ở một sắc hạ lạ mà quen… Vàng nắng tháng tư, con nít quay tít chong chóng, người già phơi mình sưởi ấm, người trẻ rực cháy riêng mình trong cái nắng êm ru của mùa say mang dáng tóc xoã – nón hoa – guốc mộc… Hiu hiu nồm đưa võng vọng tiếng Hạ ca, ngóng phương Nam, nghe miền Hạ trắng…

Gió theo trăng từ biển thổi qua non gượng mở từng trang thời gian xanh “Quê Sơn thi tập, Tam nguyên Yên Đổ thi ca… ” mà chợt cảm khái: ông còn là nhà thơ của mùa hè. Là nhà thơ của mùa thu, không lạ. Mấy ngàn năm thơ cổ phương Đông mùa thu riêng chiếm một chỗ ngồi không thể thay thế. Cảnh thu đẹp, tình thu buồn, như thể sinh ra cho tâm hồn cô đơn muôn đời thi sĩ. Chẳng vậy mà một chiếc lá ngô đồng cứ ám ảnh mãi, đấy là chưa kể đến trăng lạnh, nhạn lẻ, lá đỏ, hoa vàng… Nhịp vũ trụ hài hoà xuân sinh – hạ trưởng – thu liêm – đông tàn, mỗi mùa một nét đẹp riêng, vậy mà chỉ có xuân khả dĩ được ưu ái sau mùa thu.

Xuân về trăm hoa nở, hoan ca bài ca sự sống, gieo hy vọng yêu tin. Cái lạnh lẽo và màu tuyết tinh khôi của đông cũng ít nhiều gợi lên thi cảm. Hạ thì hầu như không được nhắc đến. Phải chăng vì hạ đuổi xuân đi, người ta vì tiếc xuân mà ruồng rẫy hạ chăng? Hay vì hạ oi bức khó chịu, khó nảy sinh cảm hứng? Hay thi ca phương Đông chuộng tao nhã, sang quý, mà hạ đến làm “trăm hoa rụng”, chỉ là mùa đậu quả, còn lại số nhiều là những loài hoa không tuổi không tên? Dù gì đi nữa, hạ cũng thật khó tìm trong miền thơ xưa giữa nẻo thu chập chùng, dáng xuân diễm lệ, đông lặng lẽ khiêm nhường…

Thơ Đường một nghìn bài, số bài thơ nhắc đến hạ chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Cảm hứng về mùa hạ cũng thật ít oi, trong khi thu gọi dậy bao nỗi niềm cảm xúc thẳm sâu diệu vợi; Xuân đượm màu triết lý về bao lẽ thịnh – suv, nở – tàn… thì nhà thơ đối diện với mùa hạ chỉ tìm đến cảm giác thanh nhàn, vô tư lự. Ẩn cư tránh nắng trong những ngôi nhà trên núi, nhàn nhã nhìn cỏ lan tràn lối núi – Sen ấu nở quanh đình (Đỗ Thẩm Ngôn), hay Cây xanh phủ bóng hạ ngày dài – Soi xuống hồ ao bóng gác đài (Cao Biền)…

Bạch Cư Dị cũng cảm nhận vẻ đẹp của mùa hè trong một đêm nhàn để thấy lòng mình không vương vấn gì Nhất thanh tảo thiền yết – Sổ điểm thanh huỳnh độ (Tiếng ve kêu rồi im – Vải đốm huỳnh nhỏ nhỏ…). Hạ xuất hiện nhiều hơn trong thơ cổ Việt Nam. Có lẽ nhà thơ gần gũi hơn với làng quê, chan hoà hơn trong ý tình bình dị. Nhìn chung, bên cạnh những vần thơ nói ý nhàn, đã có những câu thơ tả cảnh hè chân thực, sống động Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ (Nguyễn Trãi), Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông (Nguyễn Du), Xanh phô màu liễu, lục trương tán hoè (Hoàng Sĩ Khải)…

Thơ mùa hạ của Tam nguyên Yên Đổ không chỉ nhiều về số lượng (20 bài, trong Thơ văn Nguyễn Khuyến), mà còn đa dạng, phong phú trong cảm hứng. Trước hết, có thể nói Nguyễn Khuyến là một nhà thơ có tài tả cảnh. Óc quan sát tinh tế cộng với tâm hồn chan hoà với cảnh vật đã đem lại cho ông những vần thơ biết bao cung bậc, sắc thái, hình vẻ… chưa từng thấy trong thơ ca trước đó. Từ cái nóng nực đặc trưng được diễn đạt thật hàm súc trong những vần thơ ngụ ngôn được bao thế hệ biết đến: Tháng tư đầu mùa hạ -Tiết trời thật oi ả – Tiếng dế kêu thiết tha – Đàn muỗi bay tơi tả… (Than mùa hè) đến cái nắng hè dữ dội được tái hiện chỉ bằng một câu:

Trâu già gốc bụi phì hơi nắng

                                           (Chơi nhà bác Đặng)

Cũng như vậy, chỉ bằng vài nét chấm pha, nhà thơ đã miêu tả được một cơn mưa mùa hạ thật sinh động: Âm vân mạc mac vũ phi phi – Ngột toạ hàn trai bán yềm phi (Nặng nặng mây mù phất phất mưa – Phòng riêng ngất ngưởng hé song thưa. Hạ vũ). Cũng bằng ngòi bút như vẽ, ông gợi lên cái thân của mùa hè làng quê Việt Nam: Cá vượt khóm rau lên mặt nước – Bướm len lá trúc lượn rèm thưa (Vịnh mùa hè)… Không có những hình ảnh ước lệ, nhà thơ tả mùa hè bằng những gì gần gũi, thân thương. Những câu thơ ấy đều có thể góp vào hàng những câu thơ tả cảnh hay nhất xưa nay.

Cũng như các bậc tiền nhân, Nguyễn Khuyến tìm thấy ở mùa hè thú vui của sự nhàn tản. Từ quan về nhà, xa bụi bặm chốn quan trường, ông tìm được trong ngôi nhà của mình sự tự do. Ngôi nhà bảy gian, có ao nước trong cá lội, có bờ tre râm mát, cơm gạo mới, vườn rau thơm… tha hồ chống gậy đi ra đi vào, không vui sao được? (Hạ nhật ngẫu thành). Có khi vì tránh nắng mà ngủ khì trong làn gió mát, tỉnh dậy giữa một trời trăng (Thanh Giang tự tị thử)… Điều đặc biệt ở cụ già làng Yên Đổ là, ông không lánh trong núi non, khước từ thế tục mà buồn vui cùng những người thường. Chỉ là bà hàng bưng vải chín đến cho, ông cày dốc đá bán cho mẻ cá tươi, cũng đủ làm nhà thơ vui đến say tít (Hạ nhật).

Sống giữa dân gian nên ông cũng biết đến cái khổ sở của nóng nực là thế nào (Khổ nhiệt, Nhâm dần hạ nhật), ông diễn tả nỗi khổ ấy thật tự nhiên: Giếng không phải không trong – Uống vào mồ hôi vã – Cơm không phải không canh – Ăn vào nuốt chẳng đã – Đứng lẻ cũng chơ vơ – Cởi trần e suồng sã (Nhâm dần hạ nhật – Lê Tư Thực dịch). Nhờ sống chan hoà với dân chúng, cùng sướng khổ buồn vui với họ mà những vần thơ của ông ấm nóng hơi thở cuộc đời thực mà thơ ca trước kia chưa có được. Đọc thơ mùa hạ của Nguyễn Khuyến, ta không chỉ gặp giọng thơ đơn thuần tả cảnh hay nhẹ nhõm tiêu dao quen thuộc của mảng đề tài này.

Thật ra, ở những tâm hồn ái quốc ưu dân, đem buồn vui riêng mình gắn với cuộc đời thì mấy khi có được những phút giây thảnh thơi thực sự. Có hóng mát thuở ngày trường thì cuối cùng Nguyễn Trãi cũng hướng đến niềm ao ước ấm no cho dân Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng – Dân giàu đủ khắp đòi phương (Bảo kính cảnh giới). Những vần thơ của Nguyễn Khuyến  đọc nghe nhẹ tênh mà thật ra mang nặng nỗi niềm, ông lo về nỗi mất mùa, thương dân, nhớ nước… Những cảm xúc đan xen đã làm cho thơ ông có sự đa dạng trong giọng điệu. Trong giọng nhẹ nhàng bình dị có xen lẫn nỗi căm giận mỉa mai: Ví phỏng vận nước cũng tai ách như vận nhà, thì những “ông lớn” đều đáng gọi là “ông lợn” cả! (Hung niên IV).

Có khi từ hiện tượng tự nhiên nhà thơ suy ngẫm về những biến thiên khôn lường của tạo hoá, về lẽ sống ở đời… Có khi là giọng xót xa ngậm ngùi khi nghĩ đến ơn vua nợ nước Hoàng ân di trọng cảm di tăng (Hạ nhật hữu cảm), Cố quốc sơn hà chân ảm đạm (Hung niên III)… Rõ ràng lui về mà lòng nhà thơ không hoàn toàn thanh thản. Những suy tư, dằn vặt… làm cho thơ ông có sự đối nghịch trong xúc cảm, và nhiều khi, mùa hạ chỉ là cái cớ để nhà thơ bộc lộ tâm sự của mình. Đọc kỹ sẽ thấy những dòng lệ chảy thầm đằng sau con chữ, nước mắt đầy trong trái tim con người có nụ cười đen là hóm hỉnh ấy. Khả vô thế cục lệ tam thăng (Hạ nhật hữu cảm).

Đối với thế cục, không tránh khỏi ba thăng nước mắt. Dòng nước mắt ấy rồi dồn vào hình tượng chim cuốc mà nhỏ thành máu lệ. Tiếng cuốc vốn buồn. Tiếng cuốc buồn từ khi chưa gắn với sự tích vua Thục mất nước kia. Có gì trong tiếng kêu khắc khoải giữa đêm khuya thanh vắng làm nao lòng người. Người tiếc xuân, không mong hè đến, đâm ra trách luôn cả tiếng chim tha thiết gọi mùa, nên những vần thơ cứ âm thầm như tiếng than Ai xui con cuốc gọi vào hè, Vì ai cho cái đỗ quyên kêu… Cuốc kêu cảm hứng cũng từ tiếng cuốc kêu gợi hứng, nhưng không phải nỗi buồn ảo não pha chút hờn hạ tiếc xuân.

Nguyễn Khuyến - nhà thơ gắn liền với hình ảnh mùa hè làng quê Việt Nam - Ảnh 3

Tiếng cuốc kêu đồng vọng niềm mất nước, nó không vang vào ban ngày, không kêu giữa số đông, nó lặn vào đêm, vào nỗi một mình. Nhà thơ dựng lên một không – thời gian đầy ám ảnh: năm canh – sáu khắc, đêm thì vắng, nguyệt thì mờ, không còn là tiếng cuốc kêu nữa, mà là máu chảy, hồn tan. Nỗi đau đã lên đến tột điểm. Điệu quyên cũng là đêm, là lệ máu: Lệ máu đêm đêm vạt áo loang. Những vần thơ đã chạm  đến miền thẳm sâu nhất vốn được giấu kín trong tâm hồn nhà thơ. Thơ về mùa hạ của Nguyễn Khuyến chân thực, dồi dào sắc điệu, thể hiện khả năng quan sát tinh tế, niềm gắn bó cảm động với quê hương, với cảnh và người.

Không đơn thuần là những vần thơ nhẹ nhõm, tươi vui, sự đa dạng trong xúc cảm đã mang lại cho thơ ông một chiều sâu mới mẻ so với mảng thơ cùng đề tài trước đó. Đây là mảng sáng tác quan trọng trong thơ ca Nguyễn Khuyến, góp phần khẳng định tài năng của nhà thơ hàng đầu của làng quê Việt Nam này. Giờ thì hạ thân thuộc lắm. Hạ đi vào lưu bút, lấp lánh dòng thơ tím, nhảy nhót khúc nhạc mưa… Đỏ phượng, tím bằng lăng, nồng nàn những loài hoa không tên tuổi… Vô tình mà mùa hạ là kỳ nghỉ, mùa thi, mùa chia ly… để thành mùa của tuổi học trò. Ngày hè dài, nằm trong vườn trưa, có gió nôm đưa võng, đọc lại hạ trong thơ cổ, thấy cũng có lắm điều thi vị.

Một khúc Nam huân – gió lành phương Nam – văng vẳng trong Vịnh cảnh mùa hè, Hạ thử của Hội Tao đàn (Hồng Đức quốc âm thi tập). Một khoảnh khắc đẹp nhất của nàng Kiều… trong ngọc trắng ngà… một toà thiên nhiên được Nguyễn Du tạc dựng trong lửa hạ quyên gọi hè. Ngọn gió nào thổi suốt xuân thì làm nên một Thiếu nữ ngủ ngày đáng trách mà ai chẳng yêu. Và lạ thay là nhà thơ gối đầu ngủ trên ngọn nồm đông… Ơn thi nhân trong cái đẹp “nôm na”. Vả còn chờ gì nữa, không hoá gió nồm đông. Để thổi lửa – thăng hoa hết mình cho tuổi trẻ cháy trong nắng hạ ngày nay, cho một Thời hoa đỏ (Thanh Tùng) Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao… mỗi một ai chẳng tự cháy theo kiểu riêng mình.

Nguồn tổng hợp