Khi gã thợ săn hoàn lương, tự thú với rừng xanh và muôn thú

Khi gã thợ săn hoàn lương, tự thú với rừng xanh và muôn thú

Du lịch Sự kiện trong tuần Văn hóa Xã hội

Trong chuyến công tác lên Tây Nguyên vào cuối năm 97, tình cờ tôi được đồng nghiệp ở đây giới thiệu một nhân vật hết sức độc đáo.

Đó là anh Tư Thuận – một thợ săn “hoàn lương”, chuyên nuôi và thuần dưỡng động vật quí hiếm tại khu vực rừng Nam Tây Nguyên. Thế là trong chuyến “xuất hành đầu năm” Mậu Dần, tôi quyết định tìm đến địa chỉ trên. Ban đầu tôi “lôi kéo” được một người đồng nghiệp ở báo Lâm Đồng cùng đi. Nhưng sau đó vì anh chàng bận… hỏi vợ nên tôi phải lên đường một mình.

Từ Đà Lạt đón xe đò xuống lưng chừng đèo Prenn. Đến ngã 3 vào hồ Tuyền Lâm tôi xuống xe. Ngã 3 vắng hoe, nhìn đâu cũng một màu xanh ngút ngàn của rừng núi. Theo bản đồ chỉ dẫn mà người bạn đã dúi cho tôi trước lúc lên đường thì từ đây vào “vườn bách thú” của anh Tư Thuận dễ chừng hơn chục cây số đường rừng nữa. Không thấy bóng dáng một chiếc xe thồ nào giữa chốn heo hút này. Hai tiếng đồng hồ trôi qua. Sự kiên trì của tôi rốt cuộc chang đem lại kết quả nào. Đành vậy. Tôi xốc balô, quyết định lội bộ men theo con đường lởm chởm đá và đầy bụi bặm trước mặt. Cao nguyên đang vào mùa khô, nắng nóng như đổ lửa.

Khi gã thợ săn hoàn lương, tự thú với rừng xanh và muôn thú - Ảnh 1

Đi trên độ cao “1,500m so với mặt nước biển” mà tôi cứ ngỡ đang ở trong lòng thành phố Sài Gòn mùa nóng nhất. Dọc đường, tôi bắt gặp khá nhiều biển cấm nào là “Rừng đặc dụng – cấm chặt phá”, nào là “Rừng đầu nguồn Trị An”… Nhưng buồn thay những đồi thông và cả những cánh rừng nguyên sinh đã bị chặt phá nham nhở, chỉ còn trơ đất trống, núi trọc. Bởi thế, chẳng lấy làm ngạc nhiên khi thị trường quạt máy ở Đà Lạt ngày một mở rộng. Cuốc bộ gần nửa ngày trời tôi mới bắt gặp một đoàn xe đạp thồ xuất phát từ hướng ngã ba hồ Tuyền Lâm. Nhìn những chiếc xe đạp trùi trũi, căm xe to bằng… cây đũa và nhưng cái bao đen thui tôi đoán ra ngay họ là dân đốt than.

Quả không sai. Một điều bất ngờ là con đường dẫn đến những hầm than của họ lại ngang qua khu rừng nuôi thú của anh tư Thuận. Thấy tôi đơn thân độc mã, họ thông cảm cho “quá giang” bằng xe đạp thồ. Nói là đi xe cho sang chứ thời gian dắt bộ nhiều hơn thời gian ngồi xe. Đến ngã rẽ vào khu rừng rậm, khi mà không còn có thể dắt bộ được nữa, chúng tôi đành gởi xe tại một căn chòi nhỏ ở ngay bìa rừng. Hơn chục chiếc xe đạp thồ đã được gởi trước đó. Tôi thực sự ngỡ ngàng khi tận mắt chứng kiến giữa chốn rừng sâu heo hút này lại tồn tại… một điểm gởi xe như thế.

Chủ nhân của nó là một người đàn ông trạc ngoài 50. Một người đốt than cho tôi biết: Trước kia ông ta có 1 cơ sở làm ăn ở Đà Lạt, sau bị phá sản, vợ bỏ đi nên buồn tình vào đây dựng  chòi ở một mình. Nguồn sống của ông là tiền công giữ xe đạp cho đoàn quân đốt than… Đi bộ thêm chừng 2 cây số, chúng tôi dừng lại một ngã rẽ nhỏ chỉ lọt một người đi. “Bây giờ anh đi theo con đường mòn này, vượt qua một con suối và thung lũng trước mặt. Cánh rừng rậm bên kia chính là vườn thú của anh Tư Thuận”. Một người đốt than đã tận tình chỉ vẽ cho tôi như thế trước lúc chia tay. Nhìn thì gần nhưng cũng phải mất 2 tiếng đồng hồ tôi mới đặt chân đến khu rừng rậm – “đại bản doanh” của anh Tư Thuận.

Trời chập choạng tối. Đây rồi. Trước mặt tôi là một cánh cổng gỗ thấp lè tè, khuất sau những tán cây cao. Thấp thoáng dưới thung lũng là một ngôi nhà sàn nhỏ. Cảm nhận đầu tiên là sự yên tĩnh đến lạnh người. Chốc chốc tiếng vượn hú xa xa vọng lại nghe rờn rợn. Tôi thận trọng men theo con dốc thẳng đứng, cây cối um tùm ngang dọc. Vừa chui ra khỏi lùm cây rậm rạp, cách căn nhà sàn chừng 20m thì bất giác tôi nhìn thấy một bóng đen phóng vụt qua như một tia chớp. Chưa kịp định thần thì “bóng đen” đã phủ lên người tôi từ phía sau. Tôi điếng người khi nhận ra hai cánh tay dài dễ cả thước, đầy lông lá đang xiết chặt trước ngực mình.

Tôi cố vùng vẫy nhưng không tài nào thoát ra được. Trong khoảng khắc kinh người ấy tôi chợt nghe loáng thoáng hình như là tiếng khọt khẹt của loài vượn kèm theo một tràng cười ngặt ngoẽo. Lúc này con “ác thú” đã buông tha tôi. Thoắt cái nó đã “đậu” lên vai một người đàn ông vạm vỡ tóc dài, người vừa cười hồi nãy. Ông ta lên tiếng: “Đừng sợ. Thấy có khách lạ nên tôi và con vượn má trắng này ra đón thôi mà”. Tôi thở phào nhẹ nhõm, bụng thầm nghĩ: Đón khách kiểu này nhỡ gặp người yếu bóng vía thì “đứt bóng” là cái chắc. Đấy là Tư Thuận – người mà các bạn đồng nghiệp đã giới thiệu như một huyền thoại.

Khi gã thợ săn hoàn lương, tự thú với rừng xanh và muôn thú - Ảnh 2

Và ngay đêm ấy, giữa chốn rừng sâu cô tịch, xung quanh là bản hợp tấu âm thanh của hàng trăm loài muông thú, câu chuyện giữa tôi và anh Tư Thuận bắt đầu… Tên thật của anh là Trần Văn Thuận sinh năm 1947, tại Bến Tre. Năm 1963, anh theo gia đình lên Đà Lạt sinh sống. Ngay từ nhỏ anh rất mê săn bắn. Trước giải phóng, việc săn bắn thú rừng được xem như một cái nghề hợp pháp (anh có hẳn giấy phép hành nghề do chế độ cũ cấp). Giới thợ săn ở Tây Nguyên lúc ấy đều nghe tiếng Tư Thuận. Anh nổi tiếng là tay súng thiện xạ và rất lì. Không biết bao nhiêu loài thú quí hiếm đã ngã gục dưới mũi súng oan nghiệt của anh.

Ấy vậy mà mọi việc được đảo lộn một cách thú vị bất ngờ, hệt như chính con người của anh. Đùng một cái gã thợ săn kỳ cựu này quyết định… hoàn lương. Từ một tay thợ săn thiện xạ trở thành một người chuyên nuôi và thuần dưỡng động vật hoang dã, chủ nhân – và cũng là ân nhân của hàng trăm loài thú. Điều gì và động cơ nào tạo cho anh mọt “bước ngoạt lịch Iịch sử” ấy? Bằng một giọng trầm ấm đặc Nam bộ, anh kể: “Một lần tôi bắn được một con khỉ đuôi lợn rất to. Chưa kịp ra khỏi chỗ nấp thì một đàn khỉ cùng loài trên 30 con từ những cành cây cao ào xuống . Chúng bu xung quanh xác con khỉ xấu số kêu ré; khóc lóc rất thảm thiết. Thì ra đó là con đầu đàn. Mắt tôi hoa lên, chân tay bủn rủn, cảnh tượng ấy cứ ám ảnh tôi mãi, ngay cả trong giấc ngủ. Thế là tôi quyết định gác súng từ đó…”.

Song, đó chỉ là lý do để dẫn đến việc anh từ giã nghề săn bắn. Còn việc làm của anh sau này – nuôi và thuần dưỡng động vật hoang dã – mà tôi đã ví von là “tự thú với rừng” là cả một quá trình “đấu tranh tư tưởng” gay go. Bỏ nghề, anh về sống tại thành phố Đà Lạt. Được một thời gian, bỗng thấy ray rứt, nhớ cảnh núi rừng, chim thú đến lạ. Và lần này anh lại “bỏ phố lên rừng”. Chúng ta tàn sát quá nhiều loài động vật quí hiếm. Một số loài đã và đang đứng bên bờ của sự tuyệt chủng. Tất cả hậu quả này do con ngươi gây nên, trong đó có tôi. Sau này có dịp suy ngẫm lại tôi càng thấy ân hận.

Con người bảo chúng là động vật hoang dã nhưng thực ra con ngươi đôi khi lại thể hiện cái bản chất hoang dã rõ nhất… Vậy là một ý tưởng táo bạo và không kém phần lãng mạn đã sớm hình thành và ngày một lớn dần trong đầu người thợ săn kỳ cựu này. “Tôi muốn mở một khu vườn thú tự nhiên, ngay trong rừng, vừa gây nuôi, vừa thuần dưỡng động vật hoang dã”. Kế hoạch xây dựng vườn thú được anh phác thảo một cách khá chi tiết. Tuy nhiên để biến nó thành hiện thực là cả một quá trình cam go, liên quan đến hàng loạt các vấn đề: tài chính, chính quyền, nguồn thú…

Ngoài ra, có một cản ngại suýt làm ảnh hưởng đến công việc của anh, đó là sự phản đối kịch liệt của người thân trong gia đình. Với điều kiện kinh tế khá ổn định như hiện tại, anh có thể hưởng một cuộc sống an nhàn, cớ sao lại tự hanh xác mình nơi chốn rừng sâu với một công việc… kỳ cục như thế?! Cuối cùng, những cám dỗ vật chất đời thường không thể “giữ chân” được anh. Bỏ lại tất cả sau lưng, anh tìm lên chốn rừng sâu. Một khu rừng nguyên sinh rộng chừng 10 ha (thuộc rừng đặc dụng, cách Đà Lạt 10km về hướng Đông Nam, gần khu du lịch hồ Tuyền Lâm) được anh chọn làm “căn cứ địa” của mình. Anh đã phải đi lại, xin xỏ cả năm trời mới được chính quyền cho phép, duyệt dự án.

Khi gã thợ săn hoàn lương, tự thú với rừng xanh và muôn thú - Ảnh 3

Tất cả mọi thứ được bắt đầu từ đầu: nhà ở, chuồng trại, nguồn điện, nước, nguồn thức ăn (cho cả người và thú)… Công đoạn xây dụng “cơ sở hạ tầng” được hòan thành 1 năm sau đó. Thời gian đầu tuy có khó khăn, thiếu thốn nhưng rồi cũng được anh “thu vén” một cách ổn thỏa, đâu ra đó. Công việc có tính chất quan trọng nhất, quyết định đến sự “thành bại”, đó là nguồn thú. Đối với động vật hoang dã, thú quí hiếm – đối tượng săn lùng ráo riết của con người – thì việc tìm kiếm, gầy dựng, bảo tồn chúng là một việc làm hết sức khó khăn. Lúc đầu, trong danh mục các loài thú ở đây chỉ giới hạn bằng những cái tên rất “nhẹ ký” như: khỉ, vượn, heo rừng, rắn, trăn, gà rừng, cá sấu, mễnh, dù dì, cò, ó, công, sóc…

Tuy nhiên chỉ chừng ấy thôi cũng đã là cả một vấn đề. Đích thân anh lặn lội đến nhiều nơi, vào các… nhà hàng năn nỉ mua về với một cái giá khá đắt. Biết anh rất cần nên các vị chủ nhà hàng tha hồ “làm eo”, kêu giá. Một nguồn thú khác là được người ta biếu, hoặc đổi. Hễ nghe ai, ở đâu có nuôi một con thú mà không có trong “bộ sưu tập” là anh tìm đến ngay. Theo anh Tư Thuận chọ biết, số tiền bỏ ra để mua thú từ trước đến nay đã gần 1 tỷ đồng. Anh nói: “Tôi có tiề̀n liệu trước cho mọi sự rủi ro có thể xảy ra. Mà nếu như có xảy ra tôi cũng không hề ân hận. Dầu sao tôi cũng cảm thấy thỏa mãn bởi đã thực hiện được một việc làm ý nghĩa trong đời”.

Tính đến thời điểm này, tuy rủi ro “để lại hậu quả nghiêm trọng” chưa thấy nhưng rủi ro về nghề nghiệp thì… như cơm bữa. “Nghề này là vậy. Đành phải chấp nhận thôi. Hiệu quả kinh tế thì không nhưng hậu quả rủi ro thì nhiều lắm. Nhiều trường hợp tưởng bỏ mạng như chơi…” – anh Tư Thuận bộc bạch. Xin nêu một ví dụ để chứng minh: Một lần anh mở lồng rắn mai gầm để cho ăn. Do sơ ý anh bị nó đớp một phát vào tay. “Mai tại chỗ, hổ về nhà” – ông bà ta đã đúc kết như vậy. Chỉ có một mình, anh tự buộc garô và bò về nhà. Tình trạng của anh thật tồi tệ: tay sưng phù, sùi bọt mép, mê mẫn. Rất may lúc ấy người cháu đi cắt cỏ về giữa đường bắt gặp.

Lập tức anh được đưa về nhà và cấp cứu bằng thuốc gia truyền. Sau đó người cháu cõng anh băng rừng ra đường quốc lộ đón xe đưa đi bệnh viện. Nằm viện không đầy một tháng thì anh lại trở về với những “người bạn” của mình… Đến cuối tháng 2/1998, vườn thú của anh Tư Thuận có gần 200 con (gồm 50 loài). Đặc biệt trong số đó, động vật quí hiếm chiếm 98 con (25 loài), với hơn 40 con (15 loài) có tên trong sách đỏ thuộc nhóm động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng. Số còn lại khoảng 100 con (25 loài) được liệt kê vào nhóm động vật hoang dã ngoài danh mục thú quí hiếm.

Ở danh mục thú quí hiếm có thể liệt kê một vài “tên tuổi” như: bò tót, nai, cá sấu, beo lửa, beo ba mai, cầy vang, cầy gấm, gấu ngựa, gấu chó, mèo rừng, heo rừng, chồn mực, khỉ đuôi lợn, khỉ cộc, khỉ vàng, vượn đen, vượn má trắng, công, cu li lùn, voọc xám, sóc bay trâu, sơn dương, ó biển lông chân, ó bông, rùa núi vàng, mễnh, chó sói đỏ, trăn, gấu tuyết… Tất cả được nuôi dưỡng một cách chu đáo trong các chuồng trại, lồng sắt, lồng gỗ trên một diện tích chừng 3 ha. Giúp việc cho anh còn có 3 người cháu được huy động tận dưới miền Tây lên. Hàng ngày 4 ngươi chia nhau chăm sóc ngần ấy số lượng thú, từ nguồn thức ăn, vệ sinh cho đến việc theo dõi chữa trị bệnh tật, thuần dưỡng…

Anh Tư Thuận tâm sự: “Do tính chất công việc khá đặc biệt nên đòi hỏi ở người lao động trực tiếp phải có tâm huyết, lòng đam mê, yêu thích và cả sự hy sinh, chịu đựng. Nuôi được một con thú từ lúc nhỏ cho đến lớn là cả một quá trình nhọc nhằn, cam go. Công việc thuần dưỡng lại càng khó khăn hơn…. Trước hết phải kể đến nguồn thức ăn. Gần 200 con đủ các nhóm, loài với “khẩu vị” khác nhau – hoàn toàn quả thật không đơn giản chút nào. Ấy thế mà anh đã cùng các cộng sự của mình “vun vén” một cách… gọn ơ. Nhìn những con thú mập mạp, khỏe mạnh trong các chuồng nuôi cũng đủ biết anh “mát tay” cỡ nào. Chăm sóc bệnh tật cho thú cũng là một vấn đề nan giải.

Khi gã thợ săn hoàn lương, tự thú với rừng xanh và muôn thú - Ảnh 4

Do thay đổi môi trường sống nên trong quá trình thích nghi, chúng mắc phải khá nhiều bệnh. Hiện tượng bỏ ăn, ủ rũ, không hoạt động là phổ biến nhất. Muốn chữa căn bệnh “trầm uất” này phải dùng tình cảm để cảm hóa là chính. Gặp lúc có dịch bệnh, anh thức trắng đêm theo dõi, chăm sóc thuốc thang hệt như chăm sóc người. Do không có bác sĩ thú y nên việc chẩn đoán, tiêm thuốc đều do anh làm hết. Tất cả những kiến thức đó là từ sách vở (tự học) và kinh nghiệm. Nuôi thú – nếu chỉ dừng lại ở việc nhốt vào chuồng và cho ăn như người ta nuôi trong sở thú thì chẳng có gì đáng nói. Mục đích chính của anh là thuần dưỡng.

Anh nói: “Bất cứ một loài thú nào cũng có tình cảm, có phản ứng 2 chiều. Chúng cũng thích vuốt ve, có bản năng tự vệ khi bị tấn công, khống chế. Một con thú dù có hung dữ đến mấy nếu nắm được tâm tính, biết cách cảm hóa thì chúng sẽ trở nên hiền lành”. Phương pháp chính của anh là dùng tình cảm để thu phục. Nói thì đơn giản nhưng thực tế khó khăn trăm bề, thậm chí phải trả giá đắt. Với những loại thú hiền, thuần dưỡng không khó. Con đối với thú dữ như: bò tót, beo, báo, gấu, chó sói…, thời gian và công sức bỏ ra rất nhiều. Theo chân anh Tư Thuận, đi thăm một vòng vườn thú của anh, tôi thực sự kinh ngạc khi thấy anh tự tay mang thức ăn đưa tận miệng hai con gấu ngựa to đùng.

Xem ra chúng hiền lành quá thể. Đến chuồng beo lửa, anh mở cửa chuồng vào tỉnh như không. Bản tính hung dữ của loài báo thì ai cũng biết, thế mà anh chẳng ngại khi đứng giữa hai anh ả to như con bê. Người thì vuốt ve thú, thú thì liếm tay người, thân mật như thể “quen nhau tư thuở nào”. “Hậu duệ” của Tề Thiên Đại thánh ở đây khá nhiều. Thấy bóng dáng anh đằng xa, chúng đồng loạt vẫy tay, hò hét, làm hề như thú ở gánh xiếc. Chú bò tót được xem là “kẻ bất trị” từ khi còn ở tay người khác, thế nhưng vào tay anh một thời gian nó trở nên hiền lành đáo để, tôi có thể lại gần nó mà không hề hấn gì…

Có thể nói, với tốc độ tàn sát thú rừng như hiện nay thì việc làm của anh Tư Thuận có ý nghĩa hết sức to lớn. Hôm chia tay, anh báo cho tôi một tin vui: Quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF) vừa cử chuyên gia đến tận vườn thú của anh để tìm hiểu và có ý định hợp tác đầu tư trong lĩnh vực nuôi và thuần dưỡng động vật quí hiếm. Đến nay mọi thủ tục và cả đề án chi tiết dường như đã được hoàn tất. Anh cho biết nếu không có gì trở ngại thì đến cuối tháng 4/98 này dự án sẽ được triển khai. Hy vọng rằng đây là cơ hội tốt nhất để “gã” thợ săn của chúng ta tiếp tục khẳng định lời “tự thú” của mình

Nguồn tổng hợp